Thứ Tư, 20 tháng 4, 2016

Công đức của việc xây tượng đắp chuông

Trong Phật giáo, gây tạo tượng Phật vừa là một nghệ thuật điêu khắc, vừa thể hiện niềm cảm xúc tôn kính đối với đức Phật, vừa góp phần giữ gìn hình ảnh của Phật giáo cho nhiều đời sau, đồng thời cũng là phước lành rất lớn.

Nhân quả của việc xây tượng Phật

Nếu bức tượng được đúc ra đó hảo tướng, trang nghiêm, được nhiều người chiêm ngưỡng, lễ bái cung kính, phát tâm tu hành; hoặc tượng được đặt tại một ngôi chùa có chư Tăng Ni tu hành chân chính, thu hút được mọi người tề tựu về tu tập rất đông thì công đức của người đóng góp vào bức tượng sẽ rất lớn.

Đầu tiên họ sẽ có duyên lành với Phật pháp hết kiếp này đến muôn kiếp về sau. Dù họ trôi lăn, lạc lối, thậm chí lỡ gậy tạo tội lỗi thì vẫn không bị rơi vào đọa xứ bởi thường có người đến nhắc, kéo họ về với Phật pháp. Hơn nữa, trong tâm người đó tự nhiên xuất hiện quyết tâm tinh tấn mãnh liệt để có thể tu hành khai mở tâm linh. Nếu tiến xa hơn, họ có thể làm người xuất gia đạo cao đức trọng, giáo hóa chúng sinh không ngừng nghỉ, điều đặc biệt là có thân tướng ta rất hoàn hảo, nghiêm trang, không bị khiếm khuyết.

Bàn luận thêm

Nói chung, kim thân của Đức Phật mà đúc đẹp, được đặt ở một nơi linh thiêng, có Tăng Ni, Phật tử tinh tấn tu hành và pho tượng được truyền đời rất lâu thì thường phúc của những người phụ góp vào lớn đến mức phải sinh lên cõi trời. Nếu phải trở lại cõi người, họ luôn là người ở trong ngôi vị tôn quý, có thân tướng tốt đẹp. Thậm chí khi chịu quả báo vì một ác nghiệp nào đó, nếu phải bị tai nạn họ không bao giờ bị đứt tay, cụt chân hay bị biến dạng cơ thể mà được phục hồi rất nhanh, rồi thân thể lành lặn trở lại. Cái niềm say mê gây tạo tượng Phật trong Phật giáo rất là lớn.



Vì vậy có những tu sĩ miệt mài cả đời chỉ lo tạc tượng. Những người có tình yêu kính đối với Đức Phật lớn lao thì họ lại càng thích tạc tượng Phật để cho mọi người chiêm ngưỡng. Tuy nhiên, có những giai đoạn tượng Phật được tạc ra không đẹp. Vì thế những người góp phần bồi tạo vào bức tượng đó bị cảm quả báo kiếp sau phải sinh ra với gương mặt khó nhìn, thậm chí kì dị. Do đó khi bồi tạo tượng Phật, ta buộc phải yêu cầu người nghệ nhân tạc tượng Phật bằng cái nhìn của người Việt Nam ngày hôm nay, không qua trung gian Trung Hoa, Thái Lan, Ấn Độ để tạo ra một gương mặt Đức Phật hoàn hảo trong từng chi tiết nhỏ. Có vậy mới giúp chúng sinh dễ dâng lên cảm xúc tôn kính.

Mặc khác, tiếng chuông chùa là một phương tiện độ sanh không thể thiếu. Theo quan niệm của Phật giáo Đại thừa, ta vừa phải độ người sống, vừa độ người mất. Trong số những người mất đó, ta lại hết sức quan tâm, ưu tư về những chúng sinh bị đọa đày ở cõi địa ngục. Đó là những người lúc sống đã làm những điều cực ác, họ bướng bỉnh cang cường đến mức không ai can ngăn được. Vì ác nghiệp đó, khi rời bỏ cõi này họ buộc phải đọa xuống địa ngục. Trong địa ngục không có ánh sáng, cực kì hôi hám, nhiệt độ nóng lạnh vượt khỏi sức chịu đựng của chúng sinh ở cõi người, tất cả mọi cảm giác khó chịu đau đớn đều vô cùng dữ dội. Những chúng sinh ở đó rên la kêu van thảm thiết trong vô vọng.

Cho nên, các vị Tổ đã tạo ra chuông chùa với mong muốn tiếng chuông sẽ được chúng sinh ở cõi địa ngục nghe thấu rồi thay đổi tâm hồn mà thoát khỏi cảnh đọa đày. Tiếng chuông ngân vang kết hợp với những lời tụng thỉnh chuông của chư Tăng Ni gửi gắm vào sẽ được biến thành đại thần chú. Đại thần chú này vang xuống dưới cõi địa ngục, vang cao lên đến những tầng trời và vang ra không gian chung quanh, gần gũi nhất là xóm làng con người.

Từng hồi chuông buông xuống không chứa đựng ngôn ngữ, không ít người cho rằng đó chỉ là âm thanh vô nghĩa. Tuy nhiên, kể cả loài cọp nghe cũng được thay đổi tâm hồn, huống hồ con người. Khi nghe ngôn ngữ ta hiểu bằng ý thức. Còn tiếng chuông khi được mang theo thần lực bỗng đi vào sâu trong tiềm thức của ta, làm thay đổi tiềm thức mà chính ta cũng không biết. Tại sao vật vô tri lại chứa đựng những điều màu nhiệm? Đây là một khái niệm mới mà khoa học chưa nghiên cứu đến, tuy nhiên đã được người xưa khai thác rất nhiều.

Thực tế, có những điều tưởng chừng vô tri nhưng lại mang trong mình một tâm thức, một sự sống nào đó rất kỳ lạ, vì đã được gá vào đó một cái tâm thức, một cái thần lực nào đó. Ví dụ, những bức ảnh thờ người quá cố, các bức tượng của những vị danh tướng… đều được gá vào tâm thức, một thần lực của họ mà ai xúc phạm, làm sứt mẻ sẽ phải chịu những hậu quả nặng nhẹ khác nhau.

Hoặc tiền dù chỉ là tờ giấy, nhưng vì được xã hội công nhận nên trở thành sức mạnh chi phối cuộc sống ta. Bùa chú cũng vậy, chỉ là một mảnh giấy thôi nhưng bằng cách nào đó đã được cả thế giới thần linh công nhận, nên đã có sức mạnh của chúng. Trong Phật giáo cũng có những vị thầy Mật Tông viết những câu thần chú vào tờ giấy mà ta khi mang theo bên người hoặc để trên bàn thờ thì được may mắn, như ý. Những tờ giấy này được cho là đã có chư Bồ tát ấn chứng nên có thần lực. Tuy nhiên, vị thầy viết ra thần chú phải là người cực kì đức độ. Bằng không, nếu họ tham sân si, không giữ giới thì mảnh giấy bùa chú viết ra cũng chỉ là vô nghĩa, không được chư Bồ tát chấp nhận vì chúng đã được viết bởi một người không thanh tịnh.



Kể cả cây cối, đất đá cũng có sự sống tâm linh. Trong vũ trụ có hai dạng tâm linh. Một dạng có bản ngã là chúng sinh, như con người, thú vật…Một dạng không có bản ngã nên không có luân hồi tái sinh như cây cối, đất đá. Trên những cánh đồng của Mỹ có những tảng đá to thường trượt, chạy theo nhiều hướng khác nhau để lại những vệt dài nhưng hoàn toàn không có dấu vết của con người đã tác động vào. Các nhà khoa học cố gắng lý giải nhưng chưa bao giờ có một lời lý giải nào thật sự thuyết phục. Hoặc Bungary cũng ghi nhận một vài trường hợp của các tảng đá biết “đẻ trứng”, thỉnh thoảng chúng lại làm “rơi” ra một hòn đá rồi hòn đá bé bỗng dần dần lớn lên.

Kết luận

Như vậy, cả cái trái đất của chúng ta là một khối sinh thể, một khối sống động, không phải một khối đất đá vô tri. Từ đó, mới xuất hiện thêm những sự sống khác là cây cỏ, chim thú, con người. Vũ trụ cũng vậy. Khoa học chỉ biết rằng vũ trụ còn giấu nhiều vật chất bí mật, nhưng không biết vật chất bí mật đó là gì. Đến ngày nào đó khoa học sẽ phát hiện ra cả vũ trụ này cũng là một khối tâm linh sống động.


Thứ Ba, 12 tháng 4, 2016

Lộ trình giác ngộ

Có bao giờ bạn tự hỏi rằng giác ngộ là như thế nào và làm gì để giác ngộ không? Giác ngộ thật sự rất khó và rất dễ đi lầm đường nên chúng ta cần người dẫn dắt bài bản và đúng cách.

Những khái niệm căn bản

Trên lộ trình giác ngộ, đầu tiên ta phải nhận thức về vô ngã; thứ hai là thường suy nghiệm, quán chiếu về vô ngã; thứ ba là hình thành đạo đức và công đức.

Nói về nhận thức về vô ngã: Lộ trình giác ngộ là con đường đi đến sự giác ngộ. Ai là người khát khao, có ý thức, có lý tưởng đi tìm sự giác ngộ thì thứ nhất là những người nghĩ mình còn đang si mê, tăm tối, vô minh nên muốn vượt khỏi thân phận thầm thường của con người.
Thứ hai là những người tuy không nghĩ mình ngu si, nhưng họ tin rằng sự giác ngộ là một điều cao siêu, cực kì đáng để họ hi sinh cuộc đời này và nhiều kiếp sau nữa để đi tìm. Nếu mức độ hiểu của ta về giác ngộ không sâu sắc thì động cơ, động lực, sức mạnh, lý tưởng để ta đi tìm sự giác ngộ cũng rất yếu. Do vậy, ta sẽ dễ dàng bỏ con đường này mỗi khi có những niềm vui ở đời lôi kéo. Ngược lại thì ta sẽ hình thành một lý tưởng rất lớn – lý tưởng cho ta đủ sức mạnh để khước từ, đánh đổi, hi sinh những niềm vui thế gian vốn dĩ quyện chặt trong máu, trong tim, trong tâm hồn chính mình.



Chúng ta cần nhận thức rõ hơn

Hiểu về vô ngã – một trạng thái mà chúng ta chưa chứng đến là việc cực kì khó khăn.
Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này, chúng ta chỉ nói một khía cạnh nhỏ nhưng là cốt tủy của giác ngộ đó là vô ngã. Chúng sinh đều mắc bệnh chấp ngã, đều thấy có một cái “tôi” rõ ràng, rất khác biệt với người khác. Từ cái “tôi” đó, vô số tâm lý như tham muốn, tham lam, thèm khát, thù hận, yêu thương, kiếm tìm... cứ bao quanh, bám chặt để tạo thành một bản ngã gần như “bất khả hủy diệt”.
Phân tích cái trạng thái dứt sạch, thoát khỏi bản ngã là như thế nào. Chúng ta hiểu: Khi vật chất bị chia nhỏ ra đến gần như tan hết, vật chất không trở thành hư vô mà trở thành năng lượng. Người ta đã chế tạo ra bom hạt nhân dựa vào nguyên tắc vật lý này. Cũng vậy, khi ta tu để mỗi ngày bớt đi tham, sân, ích kỷ, bỏ bớt dần dần rồi đến mức hết sạch bản ngã… lúc đó ta không còn là ta nữa mà đã trở thành pháp giới vũ trụ thênh thang này.
Nếu ta là vũ trụ, ta sẽ có tình yêu thương của vũ trụ, ta là tất cả chúng sinh, chúng sinh là ta, không nói yêu thương mà thương yêu tràn ngập. Thứ hai, ta là toàn thể vũ trụ này với cái biết và trí tuệ thấu suốt.
Với con người, cả vũ trụ là những khối đất đá vô tri. Còn với những vị A La Hán, cả vũ trụ này là một khối biết, một khối tâm, một khối trí tuệ, một khối cảm ứng, không phải là những thiên thể vô tri bay lẩn quẩn với nhau. Cả quá khứ, hiện tại, vị lai nằm chung trong một chỗ của cái biết này. Đó là cái biết tự nhiên, cảm ứng, không dựa vào tai mắt.
Người vẫn còn chấp ngã mà đã ý thức về vô ngã được gọi là một bậc Thượng căn. Trong cuộc sống, họ luôn tự nhắc mình về vô ngã, quán chiếu về trạng thái vô ngã, ý niệm vô ngã, tức“Thân chẳng phải là ta/ Tâm chẳng phải là ta/ Chẳng có gì là ta” thì tự tâm hồn, cuộc đời họ đi về hướng giác ngộ. Lúc đó, có hai điều hiện ra là đạo đức và công đức.

Phúc nghĩa là gì?

Nghĩa là người được quyền có nhiều sự lựa chọn. Đây là định nghĩa rất căn bản. Và người có phúc rất lớn, khi mất đi rồi, họ có quyền lựa chọn sinh về cõi trời hay quay xuống cõi người, nếu chọn cõi người họ vẫn luôn có quyền chọn lựa giữa rất nhiều điều.

Nếu chọn những niềm vui tạm bợ của thế gian làm tâm loạn lên, làm bản ngã khởi động trở lại, họ sẽ mất đạo đức và cũng có nghĩa mất luôn công đức. Vì thế, người khôn ngoan sẽ chọn con đường tiếp tục giúp họ diệt trừ bản ngã. Thiền định chính là phương pháp diệt trừ bản ngã. Đó là lý do một người muốn đi tìm sự giải thoát giác ngộ, vô ngã thì buộc phải tu tập thiền định, không còn con đường nào khác.

Nếu đi đúng trên con đường Phật đạo, sẽ có ngày phước báo của chúng ta tràn ngập. Khi đó, những điều thù thắng lần lượt hiện ra: dung nhan rực rỡ, gia sản, quyền uy lớn, thông minh đĩnh ngộ, trí tuệ sắc bén... làm ta tăng lại bản ngã. Lúc này đòi hỏi nơi ta một bản lĩnh, trí tuệ lớn hơn nữa để ta đấu với cái phước của mình, đừng để tăng lại bản ngã mà phí đi bao nhiêu kiếp tu hành.



Khó vượt qua nhất là trường hợp những người khi phước quá lớn, có quyền chọn lựa để về những cõi trời rồi thì thường họ không bao giờ muốn trở lại cõi người nữa. Với con mắt của một bậc Thánh, tất cả những điều của chúng sinh đều không đáng để đắm luyến. Nên những vị Bồ tát thị hiện xuống với cuộc đời này là những vị cực kì vĩ đại. Họ đã đến với cõi chúng sinh “ngũ trược ác thế”, đến với thế giới ô uế và ác độc mà vẫn chấp nhận chịu đựng, chấp nhận bao nhiêu sự hủy báng, nhục mạ, oan ức để nở nụ cười yêu thương, đem ánh sáng đạo pháp với cuộc đời.

Cũng vậy, khi đã hiểu được lộ trình giác ngộ này, nếu tu hành đúng hướng, chắn chắn có ngày ta sẽ đạt được phước báo vô tận, đạt được sự lựa chọn rộng rãi. Lúc đó hãy nhớ quay lại với chúng sinh, nơi cõi đời ô trượt này để yêu thương, hi sinh, phụng sự, giáo hóa không ngưng nghỉ.


Những quan điểm mới về những điều tưởng như rất cũ, hầu mang lại một hướng đi đúng, để giúp cho mọi người có được sự chuyển hóa sâu sắc và lâu bền trong tu tập. 

Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2016

Truyền thuyết về cung Thủy Bình

Liệu có bao giờ các bạn tự hỏi rằng trong thần thoại Hy Lạp, cung Thủy Bình sẽ có câu chuyện ra đời thú vị như thế nào? Sự ra đời của chòm sao Thủy Bình có gì đặc biệt hơn so với các cung khác? Bài viết này sẽ giải đáp các thắc mắc của bạn.

Cung Thủy Bình có những câu chuyện riêng

Aquarius có nghĩa là “Người mang nước”. Tự cổ chí kim, nước đã được coi là nguồn sống của vạn vật. Ở thời đại Sắt trong thần thoại Hy Lạp, nhân gian trở nên hỗn độn. Con người và thú dữ rất tàn bạo, giết chóc lẫn nhau, không kể thân thích họ hàng, lời răn dạy của thần linh cũng trở nên vô nghĩa. Thất vọng, thần Zeus quyết định tạo ra một trận Đại hồng thủy để tẩy sạch mọi ô uế dưới cõi trần.
Deucalion là con của Prometheus, vị Titan đã đem lửa đến cho người trần. Cũng như cha, ông là một người rất nhân hậu. Trong một lần ngao du trên trái đất dưới lốt một người hành hương nghèo khó, thần Zeus đã thấy Deucalion cùng vợ mình là Pyrrha dù đang sống trong túp lều đơn sơ, không có đủ thức ăn, vật dụng, vẫn tiếp đãi mình rất chu đáo. Vì vậy, thần đã báo trước cho hai vợ chồng về trận Đại hồng thủy này, truyền cho họ đóng một con thuyền để trú ẩn qua cơn lũ.



Sau cơn đại hồng thủy, chúng ta còn lại gì

Sau cơn Đại hồng thủy, mặt đất bị quét sạch, Deucalion và Pyrrha là hai người duy nhất còn sống sót. Sau khi tạ ơn thần Zeus đã để hai vợ chồng sống sót, Deucalion đã cầu khấn thần linh giúp mình xây dựng lại thế giới mặt đất. Ông được thần Themis cho biết “hãy ôm lấy đầu và ném xương mẹ ngươi ra sau lưng”. Hai vợ chồng hiểu được “mẹ” trong lời sấm truyền này là đất mẹ Gaia, mẹ của vạn vật, và “xương” của bà là những hòn đá.

Vì vậy họ ném những hòn đá ra sau lưng, và những hòn đá này trở thành lớp người tiếp theo, mạnh mẽ và có đạo đức hơn xưa – những hòn đá của Deucalion trở thành đàn ông, và của Pyrrha trở thành phụ nữ. Deucalion chính là "Người mang nước" đặc trưng bằng chòm sao Aquarius.

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2016

Ý nghĩa việc tụng kinh

Định nghĩa:

Tụng là đọc thành tiếng, tụng kinh là đọc một cách thành kính lời Đức Phật dạy ghi trong kinh điển. Lý do vì sao phải tụng kinh? Vì tụng kinh để nhớ, hiểu, ôn lại lời Phật dạy mà thực hành. Người Phật tử tụng kinh, nhớ lời Phật dạy trong kinh điển, làm phương châm cho đời sống hằng ngày, đồng thời cũng gieo hạt giống giải thoát vào tâm hồn của mình.
Hơn nữa, lời dạy của đạo Phật cao siêu, cô đọng vì nghe qua một lần không thể hiểu và nhớ hết được. Cho nên, chúng ta cần phải đọc nhiều lần để cho ý nghĩa lý kinh điển ghi khắc trong tâm không bao giờ quên.


Tụng kinh để làm gì

Chúng ta tụng kinh để kiềm chế thân khẩu ý trong thanh tịnh, không suy nghĩ nói năng hành động theo những ham muốn thấp hèn. Tụng kinh còn để bày tỏ lòng sám hối trước Tam Bảo. Ngoài ra tụng kinh còn để cầu an, để ngăn ngừa tội lỗi, giúp trừ nghiệp chướng lâu đời và tránh khỏi tai nạn do quá khứ. Tụng kinh để cầu siêu chuyển tâm niệm của người mất, khiến họ xa lìa nghiệp nhân xấu ác, thoát khỏi cảnh giới tối tăm, sinh về cảnh giới an lành.

Lợi ích của việc tụng kinh?


Truyền bá đạo lý, giúp người biết đạo, tin Nhân Quả, kiềm chế thân khẩu ý thanh tịnh.
Tụng kinh làm cho pháp âm ( lời Đức Phật ) lưu chuyển khắp thế gian để cảm hóa mọi người quay về tin hiểu Phật Pháp. Tụng kinh nơi trang nghiêm. Người đã tin Phật phải siêng năng công phu tụng kinh, lạy Phật, tọa thiền.
Tụng kinh phải đúng cách, nhiếp tâm không suy nghĩ. Chỉ tụng nơi tôn nghiêm trước bàn thờ Phật, đạo tràng thanh tịnh. Không tụng kinh trước chỗ thờ quỷ thần, cúng đồ mặn, để bày tỏ lòng tôn kính Đức Phật, Pháp Bảo và như thế sẽ được sự gia hộ của mười phương Chư Phật


Để hiểu Xử Nữ không khó

Định vị lại Xử Nữ

Không phải người, không phải loài vật, Xử Nữ là hình ảnh của một nữ thần. Theo thần thoại Hy Lạp, thuở xưa, trong một thời kỳ gọi là “Thời đại vàng”, các thần tiên không sống trên đỉnh Olympia mà sống chung với con người trên mặt đất. Tuy nhiên, khi thần Zeus đánh bại cha mình, trở thành chúa tể của các vị thần và lên ngự trị trên đỉnh Olympia, loài người bị xem là những sinh vật hạ đẳng.



Mâu thuẫn đỉnh điểm

Không đồng tình với quan điểm đó, một Titan là Prometheus đã chống lại Zeus và bảo vệ loài người. Thậm chí, ông còn ăn cắp lửa trong lò rèn của Thần thợ rèn Hephaistos và giao nó cho con người. Chính từ đó, loài người mới biết cách sử dụng lửa. Để trừng phạt, thần Zeus xích Prometheus trên đỉnh dãy Caucasus và sai một con đại bàng bay đến ăn gan của ông hàng ngày. Về phía loài người, thần Zeus tạo ra Pandora – người phụ nữ đầu tiên và cho nàng xuống trần gian cùng một chiếc hộp với lời dặn “tuyệt đối không được mở”.
Tuy nhiên, không thể chiến thắng được sự tò mò của mình, nàng Pandora đã mở hộp, làm những điều xấu xa chứa trong hộp như thói tham lam, ích kỷ, thiên tai, bệnh tật, chiến tranh….bay ra khắp thế gian, chấm dứt “Thời đại vàng” an bình thịnh vượng. Cụm từ “Chiếc hộp của Pandora” hiện nay vẫn được sử dụng để chỉ một điều cấm kỵ không được tiết lộ, không được hé mở.



Sự nghiệp tiền bạc:

Xử Nữ yêu tiền và dù tiền của nước nào đi chăng nữa, cậu ấy vẫn…yêu ngang bằng nhau. Khi đầu tư, Xử Nữ cẩn thận khảo sát từng chi tiết và suy nghĩ đến mọi tình huống có thể trong tương lai. Xử Nữ chẳng bao giờ vội vàng. Cậu ấy không keo kiệt cũng chẳng hoang phí. Xử Nữ thích sự ổn định trong công việc nơi mà trách nhiệm của mỗi người được xác định rõ ràng và không có chướng ngại vật nào phải vượt qua cả.


Gia đình bạn bè:

Yêu thương và cống hiến hết mình, Xử Nữ luôn là người đầu tiên xuất hiện nếu gia đình đang phải đương đầu với những biến cố. Khi một thành viên đến tuổi già hoặc bị bệnh, họ cũng sẽ làm tất cả mọi thứ để giúp đỡ. Chòm sao này luôn làm nhiều hơn nói và không thích thể hiện tình cảm ra bên ngoài.